NHỮNG ĐIỀU CẦN BIẾT VỀ PHẾT TẾ BÀO PAP

 

 

Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư thường gặp ở phụ nữ, xảy ra do sự biến đổi ác tính của các tế bào ở cổ tử cung. Cổ tử cung nhỏ và hẹp kết nối tử cung với âm đạo, là nơi dẫn máu kinh nguyệt thoát ra ngoài, dẫn tinh trùng vào tử cung và mở rộng đưa thai nhi ra ngoài trong quá trình sinh nở.

Có hai phần của cổ tử cung chứa hai loại tế bào khác nhau là:

Kênh cổ tử cung (Endocervix): Phần trong cùng của cổ tử cung là phần dẫn từ tử cung vào âm đạo chứa các tế bào cột chịu trách nhiệm tiết chất nhầy.

Rìa cổ tử cung (Ectocervix): Đây là phần bên ngoài của cổ tử cung, và nhô vào âm đạo. Các tế bào tử cung là nơi chứa các tế bào vảy, có dạng như vảy cá khi nhìn dưới kính hiển vi.

Vùng giao nhau giữa hai loại tế bào này là nơi mà hầu hết ung thư cổ tử cungtế bào tiền ung thư hình thành.

Pap smear là gì?

Pap smear là một phương pháp sàng lọc có thể giúp phát hiện các tế bào bất thường và ung thư thông qua việc phần tích các mẫu tế bào được lấy từ cổ tử cung.

Sàng lọc ung thư cổ tử cung có vai trò rất quan trọng để chẩn đoán sớm ung thư cổ tử cung. Nếu được chẩn đoán ung thư sớm, điều trị hiệu quả là điều hoàn toàn có thể.

Có hai xét nghiệm thường được đề nghị nhằm mục đích chẩn đoán ung thư cổ tử cung sớm bao gồm:

  • Pap smear giúp kiểm tra các tế bào bất thường.
  • Xét nghiệm papillomavirus ở người (HPV), phát hiện DNA từ HPV để kiểm tra cả sự hiện diện và chủng loại virus.

Các kết quả xét nghiệm này có thể giúp xác định liệu một người có bị ung thư cổ tử cung hay không hoặc nguy cơ mắc phải ung thư.

Những xét nghiệm này có thể giúp phát hiện:

  • Thay đổi tế bào tiền ung thư;
  • Sự hiện diện của HPV;
  • Sự xuất hiện của ung thư.

Sàng lọc định kỳ không phải lúc nào cũng bao gồm cả hai xét nghiệm cùng một lúc, nhưng một người có thể yêu cầu xét nghiệm đồng thời cả  HPVPap smear.

Theo Hiệp hội Ung thư Hoa Kỳ (ACS), tỉ lệ tử vong do ung thư cổ tử cung đã giảm đáng kể nhờ phết tế bào Pap.

Phết tế bào Pap thực hiện những gì?

Bác sĩ thường tiến hành phết tế bào Pap trong khi khám phụ khoa. Sau khi chèn mỏ vịt vào âm đạo để có thể kiểm tra cổ tử cung, mẫu tế bào cổ tử cung sẽ được thu thập bằng một bàn chải mềm và được gửi đi xét nghiệm.

Nếu có thể, tốt nhất là tránh làm phết Pap trong chu kỳ kinh nguyệt, đặc biệt nếu rong kinh quá nhiều, vì điều này có thể ảnh hưởng đến kết quả xét nghiệm.

Không nên thụt rửa hoặc đặt bất cứ thứ gì vào âm đạo trước khi tiến hành lấy mẫu.

Khi nào nên làm phết Pap?

Khuyến nghị về tần số phết tế bào Pap phụ thuộc vào một số yếu tố bao gồm:

  • Tuổi tác;
  • Tiền sử bệnh lý;
  • Tiếp xúc với diethylstilbestrol (DES) khi còn trong bụng mẹ
  • Tình trạng suy giảm miễn dịch, HIV.

Các chuyên gia khuyến nghị răng:

  • Phụ nữ 21-29 tuổi nên làm xét nghiệm Pap 3 năm một lần.
  • Phụ nữ ở độ tuổi 30-65 tuổi nên làm xét nghiệm Pap mỗi 3 năm hoặc xét nghiệm HPV cứ sau 5 năm hoặc xét nghiệm đồng xét nghiệm Pap HPV sau mỗi 5 năm.
  • Sau 65 tuổi, hầu hết phụ nữ sẽ không cần phết tế bào Pap. Tuy nhiên, các yếu tố rủi ro của mỗi người khác nhau.

Những trường hợp đã có kết quả xét nghiệm bất thường trước đó và những người nhiều bạn tình có thể cần xét nghiệm thường xuyên hơn.

Sau khi cắt bỏ tử cung hoàn toàn bao gồm phẫu thuật cắt bỏ tử cung và cổ tử cung, có thể không cần phải tiếp tục thực hiện xét nghiệm Pap.

Tuy nhiên, bất cứ ai phẫu thuật cắt tử cung do có các tế bào ung thư hoặc tiền ung thư nên tiếp tục kiểm tra thường xuyên.

Mỗi trường hợp đều có những tình trạng khác nhau, vì vậy cần nói chuyện với bác sĩ về các yếu tố nguy cơ và nhu cầu sàng lọc ung thư cổ tử cung của bản thân.

Kết quả phết tế bào

Để có được kết quả phết tế bào cổ tử cung, có thể mất khoảng từ 1-3 tuần. Hầu hết các kết quả xét nghiệm đều âm tính, nhưng đôi khi chúng có thể dương tính. Kết quả dương tính không xác nhận rằng một người bị ung thư, nhưng nó cho biết rằng cần phải thực hiện các xét nghiệm kiểm tra thêm.

Kết quả bình thường

Trong hầu hết các phiến đồ Pap, kết quả là bình thường và không phát hiện bất kỳ tế bào bất thường nào.

Kết quả không rõ

Đôi khi kết quả là không rõ ràng, bác sĩ có thể yêu cầu thực hiện thêm các xét nghiệm để theo dõi sự thay đổi. Các xét nghiệm bổ sung này có thể sẽ diễn ra ngay sau nghiệm đầu tiên hoặc 6 tháng sau đó.

Kết quả khác thường

Đôi khi kết quả có sự bất thường. Bác sĩ có thể đề nghị nhiều xét nghiệm ngay sau khi có kết quả hoặc sau 6 tháng tùy thuộc vào mức độ thay đổi của tế bào.

Các bất thường tế bào thường gặp bao gồm:

  • Các tế bào vảy không điển hình ý nghĩa không xác định (ASCUS): Đây là những tế bào bất thường nhẹ không đáp ứng các tiêu chí cho các tế bào tiền ung thư. Nếu có sự xuất hiện của các tế bào này, bác sĩ có thể đề nghị xét nghiệm bổ sung.
  • Tổn thương nội biểu mô vảy: Những tổn thương này cho thấy những thay đổi tế bào tiền ung thư có thể cần phải xét nghiệm thêm.

Bác sĩ thường sẽ khuyên nên theo dõi bằng soi cổ tử cung, có hoặc không có sinh thiết. Trong quá trình soi cổ tử cung, bác sĩ sử dụng máy soi cổ tử cung để phóng to hình ảnh của cổ tử cung, âm hộ và âm đạo để kiểm tra, đồng thời có thể lấy mẫu sinh thiết để đánh giá chi tiết.

Sự biến đổi của các tế bào được chia thành hai loại:

  • Cấp độ thấp: Một tổn thương ít có nguy cơ tiến triển thành ung thư trong tương lai gần.
  • Cấp độ cao: Một tổn thương có nhiều nguy cơ tiến triển thành ung thư.
  • Các tế bào tuyến không điển hình: Là dấu hiệu của các tế bào bất thường trong nội tiết, cần nhiều thử nghiệm kiểm tra thêm.
  • Ung thư tế bào vảy hoặc ung thư biểu mô tuyến: Chẩn đoán này báo hiệu khả năng ung thư và phụ thuộc vào loại tế bào không điển hình. Việc kiểm tra thêm là cần thiết.

Kết quả bất thường có nghĩa là gì?

Có thể phân loại các thay đổi của tế bào như sau:

  • Tổn thương cấp thấp: Nguy cơ tổn thương cấp thấp sắp tiến triển thành ung thư là tối thiểu.
  • Tổn thương cao cấp: Một tổn thương cao cấp có khả năng cao bị ung thư sớm hơn.
  • Các tế bào tuyến không điển hình: Có các tế bào bất thường trong nội tiết sẽ cần xét nghiệm thêm.
  • Ung thư tế bào vảy hoặc ung thư biểu mô tuyến: Có khả năng bị ung thư, tùy thuộc vào loại tế bào không điển hình. Việc kiểm tra thêm là cần thiết.

Sự thật ung thư cổ tử cung

Sàng lọc và các biện pháp phòng ngừa có thể làm giảm đáng kể nguy cơ ung thư cổ tử cung.

Ung thư cổ tử cung giai đoạn đầu thường không có triệu chứng cho đến khi xuất hiện chảy máu âm đạo thì đã ở giai đoạn cuối. Đây là lý do tại sao sàng lọc và thăm khám định kì là cực kì quan trọng.

Các yếu tố nguy cơ phát triển ung thư cổ tử cung bao gồm:

  • Không tiêm đủ vắc-xin HPV;
  • Không kiểm tra, thăm khám định kì;
  • Nhiễm HPV;
  • Hút thuốc;
  • Quan hệ tình dục không an toàn;
  • Có nhiều bạn tình;
  • Bị nhiễm chlamydia;
  • Hệ thống miễn dịch bị suy yếu, ví dụ do HIV
  • Không ăn hoặc ăn ít các loại rau, trái cây;
  • Thừa cân;
  • Sử dụng thuốc tránh thai trong thời gian dài;
  • Sử dụng vòng tránh thai để ngừa thai;
  • Mang thai nhiều lần;
  • Mang thai đủ tháng đầu tiên dưới 18 tuổi;
  • Đang dùng thuốc nội tiết tố DES hoặc có mẹ đã sử dụng khi mang thai.

Các bác sĩ cũng khuyên không nên thụt rửa, vì điều này có thể làm tăng khả năng nhiễm khuẩn âm đạo.

Papillomavirus ở người là gì?

HPV là một loại virus có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung trong một số trường hợp. Có hơn 150 loại HPV, tuy nhiên chỉ có một số loại như 16 19 có thể dẫn đến ung thư cổ tử cung. HPV có thể truyền từ người này sang người khác, khi quan hệ tình dục qua đường âm đạo, hậu môn hoặc miệng khi có tiếp xúc da kề da.

Tình trạng nhiễm HPV thường được giải quyết trọng một thời gian ngắn. Nếu nhiễm HPV trong thời gian dài, nguy cơ ung thư sẽ tăng lên.

Các loại virus HPV khác có thể gây các biến chứng khác nhau như mụn cóc không ung thư hoặc u nhú đều có thể điều trị được.

Tiêm vắc-xin có thể bảo vệ cơ thể khỏi việc lây nhiễm HPV. Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ (CDC) đã khuyến nghị nên tiêm vắc-xin đầy đủ với  phụ nữ trẻ dưới 26 tuổi và nam thanh niên dưới 21 tuổi.

Tuy nhiên, vào năm 2018, Cơ quan Quản lý Thực phẩm và Dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) đã đề xuất một dạng vắc-xin có tên là Gardasil 9, giúp bảo vệ chống lại vi-rút, cho nam giới và phụ nữ ở độ tuổi 27-45.

Tổng kết

Ung thư cổ tử cung là một loại ung thư phổ biến ở phụ nữ. Trước khi phát triển thành ung thư, các tế bào cổ tử cung trải qua những thay đổi bất thường mà xét nghiệm Pap có thể phát hiện. Với chẩn đoán sớm và điều trị thích hợp, tỉ lệ sống sót khi mắc phải ung thư cổ tử cung là rất lớn.

Nếu bác sĩ chẩn đoán ung thư cổ tử cung ở giai đoạn sớm nhất, người đó có cơ hội sống sót 93% trong ít nhất 5 năm nữa. Tuy nhiên, nếu chẩn đoán xảy ra khi ung thư cổ tử cung ở giai đoạn muộn nhất, khả năng sống sót giảm xuống còn 15%.

Các chuyên gia lưu ý rằng ung thư cổ tử cung là ung thư phụ khoa dễ phòng ngừa nhất bằng các phương pháp sàng lọc ung thư định kì và tiêm ngừa đẩy đủ vắc-xin HPV.