Khám ung thư cổ tử cung được thực hiện như thế nào là đúng ?

ung thư cổ tử cung

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ 4 đối với phụ nữ trên toàn thế giới. Nhưng theo thời gian, nó trở thành một trong những loại ung thư dễ dàng để phòng ngừa nhất. Vậy khám ung thư cổ tử cung là như thế nào và được thực hiện ra sao ?

Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ 4 đối với phụ nữ trên toàn thế giới
Ung thư cổ tử cung là loại ung thư phổ biến thứ 4 đối với phụ nữ trên toàn thế giới

Ung thư cổ tử cung là gì ?

Ung thư cổ tử cung là dạng ung thư khởi phát tại cổ tử cung – khe hẹp nối âm đạo và tử cung. Cổ trong cổ tử cung bình thường sẽ có màu hồng khỏe mạnh với lớp tế bào vảy mỏng và phẳng. Ống cổ tử cung được cấu thành bởi một dạng tế bào khác gọi là tế bào trụ. Khu vực giao nhau của hai dạng tế bào này được gọi là khu chuyển đổi, chính là nơi các tế bào bất thường hoặc tiền ung thư dễ phát triển nhất.

Hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung (80 – 90%) là ung thư biểu mô tế bào vảy. Ung thư tế bào tuyến là loại ung thư phổ biến thứ hai của ung thư cổ tử cung, được ghi nhận khoảng 10 – 20% số ca. Dạng ung thư này được phát triển từ các tuyến tiết chất nhờn trong ống cổ tử cung. Mặc dù ít phổ biến hơn ung thư biểu mô tế bào vảy, tỷ lệ mắc ung thư biểu mô tuyến đang gia tăng, đặc biệt là ở các bạn nữ tuổi đời còn trẻ.

Ung thư cổ tử cung có xu hướng xảy ra ở độ tuổi trung niên. Độ tuổi thường mắc bệnh là từ 35 – 44. Bệnh hiếm khi ảnh hưởng đến phụ nữ dưới 20 tuổi và hơn 15% chẩn đoán được thực hiện ở phụ nữ trên 65 tuổi. Nhưng ở nhóm phụ nữ trên 65 tuổi, ung thư thường xảy ra ở những phụ nữ không làm xét nghiệm sàng lọc thường xuyên.

Khám ung thư cổ tử cung được thực hiện thế nào ?

Nguyên nhân gây ung thư cổ tử cung

Hầu hết các trường hợp ung thư cổ tử cung là do nhiễm virus HPV. HPV là một loại virus xâm nhập vào tế bào và có thể khiến các tế bào biến đổi. Một số loại HPV có liên quan đến ung thư cổ tử cung cũng như ung thư âm hộ, âm đạo, dương vật, hậu môn, miệng và cổ họng. Các chủng HPV có khả năng gây ung thư được gọi là “chủng có nguy cơ cao.”

Virus HPV
Virus HPV

Thường sẽ mất từ 3-7 năm để các thay đổi nguy cơ cao trong các tế bào cổ tử cung biến đổi thành ung thư. Sàng lọc ung thư cổ tử cung có thể phát hiện những thay đổi này trước khi chúng trở thành ung thư. Phụ nữ có những thay đổi nguy cơ thấp có thể được kiểm tra thường xuyên hơn để xem liệu tế bào của họ có trở lại bình thường hay không. Phụ nữ có những thay đổi nguy cơ cao có thể được điều trị để loại bỏ các tế bào. Vì thế việc khám ung thư cổ tử cung là vô cùng quan trọng.

Khám ung thư cổ tử cung được thực hiện như thế nào ?

Sàng lọc ung thư cổ tử cung bao gồm xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap hoặc Pap smear, tùy theo chỉ định của bác sĩ), và đối với một số người là xét nghiệm HPV. Cả hai xét nghiệm đều sử dụng các tế bào lấy từ cổ tử cung. Quá trình sàng lọc rất đơn giản và nhanh chóng. Bạn nằm trên một cái ghế đặc biệt và một thiết bị gọi là mỏ vịt được sử dụng để mở âm đạo. Mỏ vịt giúp các bác sĩ có một cái nhìn rõ ràng về cổ tử cung và phần trên âm đạo.

Các bác sĩ sẽ sử dụng một bàn chải chuyên dụng hoặc các thiết bị khác để lấy mẫu xét nghiệm. Mẫu tế bào cổ tử cung này sẽ được bảo quản trong một ống chứa dung dịch đặc biệt và gửi đến phòng xét nghiệm.

Đối với xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap hoặc Pap smear), mẫu sẽ được kiểm tra xem có sự hiện diện của tế bào bất thường nào không.

Đối với xét nghiệm HPV, mẫu sẽ được kiểm tra xem có sự hiện diện của 13-14 chủng HPV nguy cơ cao.

Phương pháp xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap) cho phép phát hiện tế bào cổ tử cung bất thường
Phương pháp xét nghiệm Pap (ThinPrep Pap) cho phép phát hiện tế bào cổ tử

Kết quả khám ung thư cổ tử cung có chính xác không ?

Như với bất kỳ xét nghiệm khác trong phòng thí nghiệm, kết quả sàng lọc ung thư cổ tử cung không phải lúc nào cũng chính xác. Đôi khi, kết quả cho thấy các tế bào bất thường trong khi các tế bào bình thường. Đây được gọi là một kết quả “dương tính giả”. Sàng lọc ung thư cổ tử cung cũng có thể không phát hiện ra các tế bào bất thường khi chúng có mặt. Đây được gọi là một kết quả “âm tính giả”.

Để giúp ngăn ngừa kết quả âm tính giả hoặc dương tính giả, người bệnh nên tránh thụt rửa, quan hệ tình dục và sử dụng thuốc đặt âm đạo hoặc các sản phẩm vệ sinh trong 2 ngày trước khi thử nghiệm. Cũng nên tránh làm các xét nghiệm sàng lọc ung thư cổ tử cung khi đang có kinh nguyệt.

 

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

HOTLINE